Phân biệt cá nhân cư trú cá nhân không cư trú và khấu trừ thuế TNCN

Phân biệt cá nhân cư trú cá nhân không cư trú và khấu trừ thuế TNCN

Phân biệt cá nhân cư trú, cá nhân không cư trú và khấu trừ thuế TNCN

Trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đối tượng nộp thuế không được xác định dựa trên quốc tịch mà dựa trên tình trạng cư trú của cá nhân. Điều này đặt ra một vấn đề đó là tại sao pháp luật các quốc gia không lựa chọn quốc tịch làm căn cứ xác định nghĩa vụ thuế, mà lại lựa chọn tiêu chí cư trú để xác định nghĩa vụ nộp thuế? Nếu căn cứ vào quốc tịch, mọi công dân Việt Nam đều có thể phải nộp thuế cho Việt Nam dù đang sinh sống, làm việc và tạo ra thu nhập ở nước ngoài và ngược lại, người nước ngoài mặc dù cư trú, làm việc và hưởng lợi từ môi trường Việt Nam lại có thể không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật thuế Việt Nam.

Chính vì vậy, mục đích của việc phân chia đối tượng nộp thuế thành cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú là cá nhân cư trú phải đóng thuế cho toàn bộ thu nhập phát sinh không phân biệt thu nhập phát sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam. Đối với trường hợp cá nhân không cư trú thì chỉ chịu thuế cho thu nhập nào phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.

Cách xác định cá nhân cư trú

Cá nhân được xác định là cá nhân cư trú khi thỏa mãn 01 trong 02 điều kiện về thời gian hoặc nơi ở:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Document

 

 

 

 

Cá nhân cư trú
Thời gian
Trường hợp 1: Tính trong 1 năm

Cá nhân ở 183 ngày trở lên trong 1 năm[1]

Trường hợp 2: Không đủ 183 ngày trở lên trong 1 năm

Thì xét đến việc cá nhân  ở 183 ngày liên 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên cá nhân có mặt tại Việt Nam thì được xem là cá nhân cư trú.[2]

Ví dụ:

Trường hợp 1:

Ông A (quốc tịch Mỹ) có mặt tại Việt Nam làm việc từ 01/3/2019 đến 15/12/2019 thì ông A rời khỏi Việt Nam. Như vậy ông A đã ở Việt Nam được 290 ngày trong vòng một năm nên được xác định là cá nhân cư trú.

Trường hợp 2:

Bà B (quốc tịch Anh) bắt đầu làm việc tại Việt Nam từ 01/10/2019 đến 31/05/2020  rồi rời khỏi Việt Nam. Bà B được xác định là cá nhân cư trú do có mặt tại Việt Nam là 213 ngày trên 183 ngày trong 12 tháng liên tục kể từ 01/10/2019.

Nơi ở
Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam:

Nơi ở đăng ký thường trú:[3]

+        Đối với người nước ngoài thì là nơi ở thường trú ghi trong Thẻ thường trú hoặc nơi ở tạm trú khai khi đề nghị đăng ký cấp Thẻ tạm trú.

Nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn:

+        Miễn có tổng số ngày thuê nhà để ở theo các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong 1 năm cũng tính là cá nhân cư trú bất kể thuê ở nhiều nơi hay nơi đâu.

+        Nếu dưới 183 ngày trong năm mà không chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào thì cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam

Ví dụ: Bà B là công dân Nhật Bản thuê nhà tại Hà Nội 120 ngày, sau đó chuyển sang TP. Hồ Chí Minh thuê tiếp 80 ngày. Tổng thời gian thuê là 200 ngày, nên bà B được xác định là cá nhân cư trú, mặc dù thuê ở nhiều nơi.

Thuế TNCN giữa cá nhân cư trú và không cư trú
Ví dụ:

Ông John được trả 100 triệu đồng từ tiền thù lao môi giới tại Việt nam. Nếu ông John được xem là cá nhân cư trú thì khi chi trả khoản thu nhập này phải khấu trừ thuế thu nhập cá nhân 10% từ phần thu nhập đó tương ứng 10 triệu đồng. Ngược lại, nếu ông John là cá nhân không cư trú thì phần phải khấu trừ thuế thu nhập cá nhân là 20%, tương ứng 20 triệu đồng.

Qua ví dụ này có thể thấy, việc xác định cá nhân là cư trú hay không cư trú có ý nghĩa quan trọng vì ảnh hưởng trực tiếp đến mức thuế phải khấu trừ.  Ngoài ra, ông A nếu không phải là người cư trú ở Việt Nam việc thì sẽ không được hưởng khoảng tiền giảm trừ gia cảnh và phải chịu thuế 20% không như người cư trú ở Việt Nam. Điều này cũng là hợp lí khi người sinh sống và làm việc lâu dài, người ở Việt Nam không chỉ nộp thuế mà còn trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế thông qua các hoạt động sinh hoạt, mua sắm, tiêu dùng hàng ngày. Dòng tiền họ chi tiêu giúp phát triển kinh tế, dịch vụ, du lịch và góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng tại Việt Nam.

Chính vì vậy:

Việc giảm trừ gia cảnh và quy định thuế thu nhập cá nhân từ thu nhập tiền lương, tiền công của người ở Việt Nam là điểm nhân văn, công bằng đối với pháp luật Việt Nam. Về điều kiện thời gian và nơi ở nhằm xác định cá nhân cư trú mang nhiều ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý thuế.

Trước hết, đây là ranh giới pháp lý để phân định phạm vi thu thuế: cá nhân cư trú phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh trên toàn cầu, trong khi người không cư trú chỉ nộp thuế cho thu nhập phát sinh tại lãnh thổ Việt Nam. Xét về mặt công bằng, khi một người sinh sống, làm việc thì họ đã sử dụng cơ sở hạ tầng, y tế, an ninh, an sinh xã hội và môi trường sống tại Việt Nam nên cần có trách nhiệm nộp thuế để đóng góp cho sự phát triển chung.

Trên đây là nội dung tư vấn vềPhân biệt cá nhân cư trú, không cư trú và khấu trừ thuế TNCN”.
Nếu bạn cảm thấy bài viết hữu ích thì hãy cùng chúng tôi lan tỏa tri thức đến cộng đồng bằng cách nhấn “Chia sẻ” bài viết này.
Luật Nghiệp Thành cảm ơn các bạn đã xem, chia sẻ và mong nhận được phản hồi, góp ý để bài viết ngày càng hoàn thiện hơn.

Biên soạn: Nguyễn Hoàng Mai Phương
Người hướng dẫn: Luật sư Thuận

 

[1] Điều 2.2(a) Luật thuế thu nhập cá nhân 2025

[2] Điều 2.2(a) Luật thuế thu nhập cá nhân 2025

[3] Điều 4.2 Nghị định 253/2026/NĐ-CP

 

Document
Bạn cần tư vấn dịch vụ này!

Views: 0

Categories: Giới thiệu, Thuế

Write a Comment

Your e-mail address will not be published.
Required fields are marked*