Quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử (TMĐT)

Quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử (TMĐT)

30

Quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử (TMĐT)

Việt Nam là nước sử dụng Internet chiếm hơn ½ dân số cả nước và đang được dự báo sẽ tăng lên rất nhiều vào những năm tiếp theo. Do vậy mà thương mại điện tử phát triển vô cùng mạnh mẽ tại nước ta. Từ ngày 01/7/2020, quản lý thuế trong hoạt động thương mại điện tử lần đầu tiên đã được “luật hóa”. Qua đó, nhằm quản lý chặt chẽ hơn cũng như hạn chế sự thất thu của nguồn ngân sách nhà nước do sự mở rộng không ngừng của các cá nhân, tổ chức nước ngoài trong lĩnh vực này. Sau đây, Luật Nghiệp Thành sẽ cùng bạn đọc tìm hiểu tại sao quy định trong hoạt động thương mại điện tử lại cần thiết và quy định mới có nội dung gì.

Tại sao cần quản lý chặt chẽ hoạt động thương mại điện tử?

Thứ nhất, hoạt động TMĐT đang phát triển vô cùng mạnh mẽ ở Việt Nam

Hiện nay có rất nhiều giao dịch TMĐT đã gia nhập vào Việt Nam trong thời gian qua, như:

+ Kinh doanh, bán hàng qua mạng xã hội Facebook, Instagram, v.v…

+ Các dịch vụ vận tải như Grab, Go viet, Be, Baemin, v.v…

+ Các dịch vụ đặt phòng trực tuyến như Traveloka, Agoda, v.v…

+ Các quảng cáo trực tuyến trên Facebook, Google, Youtube, v.v…

+ Và nhiều loại hình đa dạng khác, v.v…

Document
Hãy thảo luận với chuyên gia!

DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TRỌN GÓI – NHẬN LÀM THỦ TỤC KHAI BÁO THUẾ BAN ĐẦU CHO KHÁCH HÀNG

 

Do phạm vi kinh doanh hoạt động thương mại điện tử là rất rộng lớn, và những cá nhân, tổ chức kinh doanh loại hình này thường có được nguồn thu nhập khủng. Nhưng lại không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.

Thứ hai, khó khăn trong việc kiểm soát nguồn thu nhập của các tổ chức, cá nhân từ hoạt động TMĐT

Trong loại hình kinh doanh này, đa phần mọi giao dịch chủ yếu qua tin nhắn, điện thoại, website, các trang mạng xã hội hay quảng cáo, v.v… Và thường không xuất hóa đơn khi giao dịch. Bên cạnh đó, thông tin trên Internet dễ xóa nhưng cũng dễ thay đổi.

Do đó, việc chứng minh nguồn thu nhập của những đối tượng này là không có căn cứ do vậy dẫn tới việc họ không phải thực hiện nghĩa vụ thuế.

Quy định về hoạt động TMĐT với các tổ chức nước ngoài

Hiện nay các thương nhân, tổ chức nước ngoài kinh doanh TMĐT tại Việt Nam thông qua các hoạt động đầu tư, lập chi nhánh, văn phòng đại diện, hoặc thiết lập website dưới tên miền Việt Nam[1].

Đặc biệt đối với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khi cung cấp dịch vụ TMĐT thì phải có giấy phép kinh doanh. Giấy phép sẽ do Sở Công thương nơi tổ chức đó đặt trụ sở cấp.[2]

Hiện tại, quy định về kê khai, nộp thuế với thương nhân, tổ chức nước ngoài có hoạt động TMĐT tại Việt Nam nhưng không có trụ sở, có một nội dung được quy định cụ thể đó là kê khai thuế nhà thầu. Mà hình thức thực hiện là thông qua hợp đồng giữa nhà thầu và cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ của nhà thầu tại Việt Nam[3].

Tại nước ta, việc sử dụng các dịch vụ của Google, Youtube hay Facebook, v.v… là rất phổ biến. Các doanh nghiệp này dù không có trụ sở tại Việt Nam nhưng lại phát sinh thu nhập tại Việt Nam thông qua hợp đồng cung cấp dịch vụ quảng cáo. Nhưng trong số đó, chỉ có một số doanh nghiệp tại Việt Nam mới thực hiện kê khai nộp thuế nhà thầu; nhưng nhà thầu nước ngoài lại phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện thì mới nộp thuế, như về nơi thường trú, cư trú tại Việt Nam; thời hạn kinh doanh và cả áp dụng chế độ kế toán Việt Nam và có mã số thuế.[4]

Nếu không đáp ứng những điều kiện trên thì lúc này bên Việt Nam sẽ phải nộp thuế thay cho bên nhà thầu.[5] Bạn đọc có thể tham khảo chi tiết quy trình kê khai và nộp thuế tại bài viết Kê khai thuế nhà thầu đối với hóa đơn Google Facebook

Vậy những thương nhân, tổ chức nước ngoài có hoạt động TMĐT tại Việt Nam, nhưng lại không hiện diện tại Việt Nam cung cấp dịch vụ TMĐT cho các tổ chức, cá nhân khác thì sẽ được quản lý như thế nào? Đó chính là nội dung chính tại quy định Luật Quản lý thuế 2019. Cụ thể như sau:

Đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác được thực hiện bởi nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì nhà cung cấp ở nước ngoài có nghĩa vụ trực tiếp hoặc ủy quyền thực hiện đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế tại Việt Nam theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.”[6]

Có thể hiểu rằng quy định đó đã đặt ra nghĩa vụ của các thương nhân, tổ chức nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam, nhưng có kinh doanh TMĐT tại Việt Nam. Thì phải trực tiếp đăng ký thuế, khai thuế hoặc nộp thuế hoặc có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác (như đại lý thuế) để thực hiện.

Hiện tại, vẫn chưa có những văn bản hướng dẫn về nội dung trên, tuy nhiên điều đó góp phần định hướng cũng như tăng cường quản lý chặt chẽ. Ngoài ra, cũng đảm bảo sự công bằng về chính sách thuế giữa công ty trong nước và công ty đa quốc gia trong bối cảnh phát triển hiện nay.

Luật Nghiệp Thành sẽ cập nhật bổ sung khi có nghị định, thông tư hướng dẫn quản lý thuế trong hoạt động TMĐT.

Trên đây là nội dung tư vấn về “Quản lý thuế trong hoạt động TMĐT”

Luật Nghiệp Thành cảm ơn các bạn đã xem, rất mong nhận được phản hồi và góp ý bổ sung.

 

Biên tập: Nguyễn Linh Chi

Luật sư hướng dẫn: Luật sư Thuận

[1] Điều 2.c Nghị định 52/2013

[2] Điều 8 Nghị định 09/2018

[3] Điều 1.1 Thông tư 103/2014

[4] Mục II Điều 8 Thông tư 103/2014

[5] Mục III Điều 11 Thông tư 103/2014

[6] Điều 42.2 Luật Quản lý thuế 2019

 

 

 

Document
Danh mục: Thuế
Tags: tag

Tác giả

Viết bình luận

Trả lời

<

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *