Quy định mang thai hộ

Quy định mang thai hộ

Làm mẹ là một thiên chức cao cả đối với người phụ nữ. Tuy nhiên, hiện nay lại có rất nhiều trường hợp vợ chồng không có con do vô sinh hay vì một lý do nào đó mà vẫn chưa có con trong nhiều năm dù đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tiên tiến. Giải pháp hữu ích hiện nay cho cặp vợ chồng này là dùng phương pháp nhờ mang thai hộ bằng cách lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con[1]. Vậy quy định mang thai hộ cụ thể như thế nào là đúng?

Pháp luật quy định mang thai hộ có hai loại đó là mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại. Hiện nay tại Việt Nam chỉ công nhận việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, còn việc mang thại hộ vì mục đích thương mại bị nghiêm cấm. Nếu người nào thực hiện hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự[2].

Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo xuất phát từ cơ sở tự nguyện của các bên. Tuy nhiên vẫn phải đảm bảo quy định mang thai hộ sau:

  • Vợ chồng nhờ mang thai hộ

– Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

– Vợ chồng đang không có con chung;

– Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

  • Người mang thai hộ

– Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

Document

– Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

– Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

– Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng vè vấn đề này;

– Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý cho việc sẵn sàng mang thai hộ.

Lưu ý: ở đây là người mang thai hộ phải là người thân thích của bên vợ hoặc bên chồng như  anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ. Việc khoanh vùng đối tượng mang thai hộ này có thể hạn chế tình trạng đẻ thuê, tranh chấp xảy ra hay hoạt động mang thai hộ vì mục đích thương mại.

Trước khi làm thủ tục nhờ mang thai hộ đến cơ sở y tế, hai bên nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ phải lập văn bản thỏa thuận việc mang thai hộ và văn bản này phải được công chứng mới có giá trị[3]. Việc vợ/chồng ủy quyền cho nhau để ký kết thỏa thuận thì việc ủy quyền này cũng phải được lập thành văn bản có công chứng. Sau đó nộp hồ sơ đến cơ sở y tế như sau:

Cơ sở KCB có đủ điều kiện thực hiện ngay kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:

  • Bệnh viện Phụ sản trung ương;
  • Bệnh viện Đa khoa trung ương Huế;
  • Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh.

Hồ sơ gồm:

  • Đơn đề nghị được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ (Mẫu số 04 NĐ 10/2015);
  • Bản cam kết tự nguyện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Mẫu số 05 NĐ 10/2015);
  • Bản cam đoan của người đồng ý mang thai hộ là chưa mang thai hộ lần nào đề phòng việc mang thai hộ vì mục đích thương mại;
  • Bản xác nhận cho thấy tình trạng chưa có con chung của vợ chồng do UBND xã/phường nơi thường trú của vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận;
  • Bản xác nhận của cơ sở KCB được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
  • Bản xác nhận của cơ sở KCB được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định đối với người nhận phôi theo quy định và đã từng sinh con;
  • Bản xác nhận chứng minh về mối quan hệ thân thích cùng hàng của UBND xã/phường hoặc người mang thai hộ, người nhờ mang thai hộ.;
  • Bản xác nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ.
  • Bản xác nhận nội dung tư vấn về y tế của bác sỹ sản khoa;
  • Bản xác nhận nội dung tư vấn về tâm lý của người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên;
  • Bản xác nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hoặc luật gia hoặc người trợ giúp pháp lý;
  • Bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ.

Đứa trẻ sinh ra trong trường hợp này được xác định là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ. Người mẹ nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ đều được hưởng chế độ thai sản theo luật. Bạn có thể tham khảo bài viết “Thủ tục giải quyết chế độ thai sản khi sinh con”.

Nếu người nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm quy định mang thai hộ về nghĩa vụ cấp dưỡng thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Nếu người nhờ mang thai hộ chết thì đứa trẻ sẽ được hưởng thừa kế theo quy định. Trong trường hợp người nhờ mang thai hộ chết khi chưa giao đứa trẻ thì người mang thai hộ có quyền nhận nuôi dưỡng đứa trẻ.

Các tranh chấp trong trường hợp này sẽ do Tòa  án có thẩm quyền giải quyết. Hiện nay, chưa có một quy định mang thai hộ nào hướng dẫn xử lý vi phạm hành chính, quan hệ dân sự nếu một trong hai bên vi phạm thỏa thuận về việc mang thai hộ[4]. Cho nên cũng đã có nhiều trường hợp con sinh ra do việc mang thai hộ nhưng vì lý do nào đó người nhờ mang thai hộ lại không nhận con hay người mang thai hộ không chịu giao con sau khi sinh. Do đó, đây là điểm bất cập của Luật khi quy định nhưng lại không quy định mang thai hộ rõ ràng cụ thể xử lý vi phạm như thế nào để áp dụng.

Trên đây là chia sẻ của  Luật Nghiệp Thành về quy định mang thai hộ.

Nếu các bạn thấy bài viết hữu ích thì Bạn cùng chúng tôi lan tỏa tri thức cho Cộng đồng bằng cách nhấn “Chia sẻ” bài viết này.

Luật Nghiệp Thành cảm ơn các bạn đã xem, chia sẻ và mong nhận được phản hồi, góp ý bổ sung.

 

Nguồn bài viết: Tổng hợp.

[1] Điều 5.2.g Luật HNGĐ 2014

[2] Điều 187 BLHS 2015

[3] Điều 96.2 Luật HNGĐ 2014

[4] Điều 100 Luật HNGĐ 2014

Document
Bạn cần tư vấn dịch vụ này!

Categories: Cá Nhân

Write a Comment

Your e-mail address will not be published.
Required fields are marked*