Nghĩa vụ thông báo khi hợp đồng lao động hết thời hạn

Nghĩa vụ thông báo khi hợp đồng lao động hết thời hạn

Hits: 1500

Hỏi: Nghĩa vụ thông báo khi hợp đồng lao động hết thời hạn.Công ty tôi ký hợp đồng lao động (HĐLĐ) thời hạn 1 năm với nhân viên, sắp tới HĐLĐ này sẽ hết thời hạn, vậy công ty tôi có phải báo trước cho nhân viên hay không?

Trả lời: Nghĩa vụ thông báo khi hợp đồng lao động hết thời hạn

Khi HĐLĐ xác định thời hạn (thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng) hết hạn, NSDLĐ phải thông báo bằng văn bản cho người lao động (NLĐ) biết trước khi HĐLĐ hết thời hạn.

Theo quy định của Bộ Luật Lao động 2012:

Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

Quy định như trên nhằm để tránh trường hợp NSDLĐ không có ý định giữ lại NLĐ nhưng lại chờ đến khi HĐLĐ hết thời hạn mới thông báo, NLĐ sẽ không có sự chuẩn bị khi phải chấm dứt HĐLĐ. Khi đó NLĐ sẽ không xoay sở kịp, khó có thể tìm được một công việc khác ngay. Hơn nữa, nếu NLĐ là lao động chính trong gia đình, khi mất đi thu nhập thì các thành viên khác trong gia đình cũng ảnh hưởng theo.

Document

Nếu NSDLĐ vi phạm về thời hạn báo trước trên thì phải chịu các trách nhiệm sau:

♦ Nhận NLĐ vào làm việc trở lại, đóng BHXH cho thời gian NLĐ không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương. Nếu NLĐ không muốn làm việc nữa thì phải trả thêm trợ cấp thôi việc

♦ Có thể bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng (Điều 7.1 Nghị định 95/2013/NĐ-CP).

Điều 7. Vi phạm quy định về thực hiện hợp đồng lao động

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không thông báo bằng văn bản cho người lao động biết trước ít nhất 15 ngày, trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn.

Trên đây là chia sẻ của Luật Nghiệp Thành về nghĩa vụ thông báo khi hợp đồng lao động hết thời hạn.

Nếu các bạn thấy bài viết hữu ích thì Bạn cùng chúng tôi lan tỏa tri thức cho Cộng đồng bằng cách nhấn “Chia sẻ” bài viết này.

Luật Nghiệp Thành cảm ơn các bạn đã xem, chia sẻ và mong nhận được phản hồi, góp ý bổ sung.

 

 

 

 

 

 

Document
Categories: Lao động
Tags: tag

About Author

Comments

  1. Cọp
    Cọp 25 Tháng Sáu, 2019, 07:03

    cho em hỏi: cơ sở pháp lý của viêc “nhận người lao động làm việc trở lại,… trợ cấp thôi việc” là ở đâu vậy ạ?
    vì trong bllđ việc phải nhận người lđ lam việc trở lại chỉ quy định đối với trường hợp khi đớn phương chấm dứt hợp đồng trái luật, chứ không quy định đối với việc vi phạm nghĩa vụ thông báo?

    Reply this comment
    • admin
      admin Author 26 Tháng Sáu, 2019, 09:48

      Chào bạn,
      Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Luật Nghiệp Thành.
      Câu hỏi của bạn hỏi về cơ sở pháp lý về việc “cơ sở pháp lý của việc “nhận người lao động làm việc trở lại,… trợ cấp thôi việc” là ở đâu vậy ạ?
      vì trong BLLĐ việc phải nhận người lđ làm việc trở lại chỉ quy định đối với trường hợp khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật, chứ không quy định đối với việc vi phạm nghĩa vụ thông báo?”. Luật Nghiệp Thành xin trả lời như sau:
      Theo quy định tại điều 41 BLLĐ thì các trường hợp đơn phương trái PL bao gồm các trường hợp tại Điều 37, 38, 39 BLLĐ. Trong đó, tại Điều 38 BLLĐ có quy định về thời hạn báo trước.
      Như vậy, NSDLĐ không thông báo đúng theo quy định sẽ thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật. Hậu quả của việc này là NSDLĐ phải thực hiện theo quy định tại Điều 42 BLLĐ là nhận NLĐ trở lại làm việc.
      Trên đây là câu trả lời của LNT về câu hỏi của bạn, nếu còn thắc mắc thì bạn vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được giải đáp.

      Reply this comment

Write a Comment

Your e-mail address will not be published.
Required fields are marked*