Di chúc viết tay có hiệu lực không?

Di chúc viết tay có hiệu lực không?

Hits: 140

Di chúc viết tay có hiệu lực không?

Như đã biết di chúc là sự thể hiện ý chí của người chết để chuyển tài sản của mình cho những người được ghi trong đó. Hiện nay theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì hình thức di chúc có 02 loại là di chúc bằng lời nói và di chúc bằng văn bản. Trong đó thì di chúc bằng văn bản có thể được viết tay hoặc đánh bằng văn bản.

Muốn để di chúc có hiệu lực pháp luật và phân chia di sản theo ý chí, nguyện vọng của người có tài sản thì di chúc phải hợp pháp theo đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Vậy khi lập di chúc viết tay có hiệu lực thì phải đáp ứng các điều kiện sau:

1.Về người lập di chúc

Khi lập di chúc để định đoạt tài sản của mình thì người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép bởi bất kỳ ai, thể hiện đúng ý chí, tâm tư, nguyện vọng của mình.[1]

Vậy người như thế nào được xem là minh mẫn, sáng suốt?

Người minh mẫn; sáng suốt có thể hiểu là những người đảm bảo khả năng nhận thức và làm chủ hành vi như người thành niên bình thường. Theo đó, đối tượng được lập di chúc gồm những người thành niên không thuộc trường hợp: người bị mất năng lực hành vi dân sự[2] hay đang trong tình trạng không tỉnh táo (trường hợp của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi[3] ).

Riêng với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (là người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác mà dẫn đến phá tán tài sản của gia đình và sau khi đã bị Tòa án tuyên bố) thì khi lập di chúc thì phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật[4]

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc: Quy định về sự kiểm soát này là hợp lý do đối tượng này chưa hoàn thiện khả năng nhận thức và làm chủ hành vi.[5]

2.Về người làm chứng:

Di chúc viết tay có hai dạng là tự người để lại di sản viết hoặc nhờ người khác viết thay:

+ Với trường hợp tự người để lại di sản viết thì không cần người làm chứng.

Document

+ Với trường hợp nhờ người khác viết thì đòi hỏi phải có người làm chứng. Theo Điều 634 BLDS 2015 thì trường hợp này cần có trên hai người làm chứng cho quá trình viết di chúc.

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

+ Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

+ Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

+ Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.[6]

Theo đó, hai người làm chứng được mời tham gia phải là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc diện người thừa kế hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung di chúc. Có thể thấy, những người làm chứng này là những người không có liên quan đến việc chia thừa kế. Quy định này bảo đảm cho di chúc được thể hiện đúng ý chí của người lập di chúc; những người làm chứng sẽ không bị lợi ích ảnh hưởng.

3. Về nội dung

Người lập di chúc phải viết các nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật bao gồm các nội dung chủ yếu như sau:

+ Người lập di chúc phải rõ ngày, tháng, năm lập di chúc để thể hiện mốc thời gian lập di chúc

+ Trong di chúc phải nêu đầy đủ về họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

+ Khi lập di chúc thì người lập chúc ghi rõ họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản

+ Phải nêu rõ thông tin về di sản để lại và nơi có di sản trong di chúc theo quy định của pháp luật.[7]

Người lập di chúc cần lưu ý khi soạn di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa để đảm bảo di chúc hợp pháp theo quy định của pháp luật.

4.Về xác nhận việc lập di chúc

Cuối di chúc viết tay, phải có chữ kí hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Với trường hợp có người làm chứng thì cần thêm sự xác nhận và chữ ký của họ trong di chúc. Đây là những đảm bảo rằng di chúc được viết ra đúng với ý chí của người để lại di sản thừa kế.

Trường hợp người lập di chúc là người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ thì phải có người làm chứng và di chúc phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực[8]. Với trường hợp này, chỉ khi được công chứng; chứng thực thì di chúc mới được coi là hợp pháp.

Còn trong các trường hợp còn lại thì pháp luật không đặt ra vấn đề công chứng, chứng thực; việc đem di chúc đi công chứng; chứng thực chỉ làm tăng tính xác thực của di chúc.

Lưu ý: Nếu di chúc viết tay không đáp ứng các điều kiện trên thì hậu quả pháp lý ở đây là di chúc sẽ không hợp pháp và tài sản của người lập di chúc sẽ được phân chia thừa kế theo pháp luật.[9]

Như vậy, di chúc viết tay sẽ có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ 04 điều kiện trên: về chủ thể, người làm chứng, nội dung và sự xác nhận việc lập di chúc. Sau trong các vấn đề trên sẽ quy định rõ ràng chi tiết các điều kiện mà chủ thể phải thực hiện hoặc thỏa mãn thì di chúc viết tay mới được lập đúng ý chí của bản thân người lập di chúc và đúng theo quy định của pháp luật.

Trên đây là nội dung tư vấn về “Di chúc viết tay có hiệu lực không”

Nếu các bạn thấy bài viết hữu ích thì Bạn cùng chúng tôi lan tỏa tri thức cho Cộng đồng bằng cách nhấn “Chia sẻ” bài viết này.

Luật Nghiệp Thành cảm ơn các bạn đã xem và mong nhận được phản hồi, góp ý bổ sung.

 

Biên tập: Lê Tuấn Huy

Luật sư huớng dẫn: Luật sư Thuận.

[1] Điều 630.1 BLDS 2015

[2] Điều 22.1 BLDS 2015

[3] Điều 23 BLDS 2015

[4] Điều 24.2 BLDS 2015

[5] Điều 630.2 BLDS 2015

[6] Điều 632 BLDS 2015

[7] Điều 631 BLDS 2015

[8] Điều 630.3 BLDS 2015

[9] Điều 650.1.a BLDS 2015

Document
Categories: Cá Nhân
Tags: tag

About Author

Write a Comment

Your e-mail address will not be published.
Required fields are marked*