Các trường hợp phải thu hồi giấy đăng ký xe và biển số xe

Các trường hợp phải thu hồi giấy đăng ký xe và biển số xe

28

Các trường hợp phải thu hồi giấy đăng ký xe và biển số xe

Bắt đầu từ ngày 01/8/2020, Bộ Công an đã ra quyết định bổ sung  thêm các trường hợp thu hồi giấy đăng ký xe (cà vẹt) và lẫn biển số xe. Nổi bật trong đó là quy định trách nhiệm của chủ xe khi sang tên xe cho người ở tỉnh khác. Bên cạnh đó, xe cùng tỉnh thì cũng bắt buộc phải thu hồi giấy đăng ký xe, v.v… Vậy những quy định trên có nội dung cụ thể như thế nào? Luật Nghiệp Thành sẽ cùng bạn đọc tìm hiểu.

Các trường hợp phải thu hồi giấy đăng ký xe và biển số xe[1]

– Xe hỏng không sử dụng được hoặc xe bị phá huỷ do nguyên nhân khách quan.

– Xe tháo máy, khung để thay thế cho xe khác.

– Xe tạm nhập của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tái xuất hoặc chuyển nhượng tại Việt Nam.

–  Xe được miễn thuế nhập khẩu, nay chuyển nhượng sang mục đích khác.

–  Xe đăng ký tại các khu kinh tế – thương mại đặc biệt hoặc khu kinh tế cửa khẩu quốc tế theo quy định của Chính phủ khi tái xuất hoặc chuyển nhượng vào Việt Nam.

– Xe bị mất cắp, chiếm đoạt không tìm được, chủ xe đề nghị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe.

– Xe hết niên hạn sử dụng; xe không được phép lưu hành theo quy định của pháp luật; xe có kết luận của cơ quan thẩm quyền bị cắt hàn hoặc đục lại số máy, số khung hoặc số máy hoặc số khung.

– Xe đã đăng ký nhưng không đúng hệ biển quy định tại Thông tư này.

Document

– Xe thuộc diện sang tên, chuyển quyền sở hữu.

– Xe quân sự không còn nhu cầu cấp biển số xe dân sự.

– Xe đã đăng ký nhưng phát hiện hồ sơ xe giả hoặc cấp biển số không đúng quy định.

Với xe không thể sử dụng được do hết niên hạn, xe bị hỏng hay bị phá thì chủ xe ngoài việc nộp trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện thay mình[2]; còn có thể khai báo trên trang thông tin điện tử của Cục Cảnh sát giao thông. Cụ thể sẽ thực hiện khai báo tại mục khai báo xe thu hồi, tiếp đó sẽ phải nộp lại giấy đăng ký xe, biển số xe cho cơ quan đăng ký xe[3].

Hiện nay, Bộ Công an đang tích cực triển khai dịch vụ công trực tuyến và đã có kết nối dữ liệu thông tin của các chủ phương tiện. Do đó, việc đăng ký xe trở nên thuận tiện hơn khi người dân chỉ cần truy cập vào trang thông tin điện tử, kê khai trên Giấy khai đăng ký xe; sau đó sẽ nhận lịch hẹn để lấy kết quả.

Tổng cộng có 11 trường hợp phải buộc phải thu hồi giấy đăng ký xe và biển số xe, trong đó có 4 trường hợp được bổ sung mới. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, xe đã đăng ký nhưng không đúng hệ biển

Thứ hai, xe thuộc diện sang tên, chuyển quyền sở hữu.[4]

Trong đó, đối với xe mua, bán, cho, tặng, điều chuyển đi tỉnh khác thì chủ xe phải nộp lại biển số và cả giấy đăng ký xe cho cơ quan đăng ký xe; hoặc có thể ủy quyền cho cá nhân, tổ chức dịch vụ để nộp thay cho mình. Các chủ xe nên lưu ý đó là trách nhiệm của mình và nên nộp trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày làm hồ sơ chuyển quyền sở hữu xe.

Xe bán đi trong phạm vi cùng tỉnh thì chủ xe cũng phải nộp lại giấy chứng nhận đăng ký xe cho cơ quan đăng ký. Chủ xe cũng có thể ủy quyền cho người khác thực hiện giúp mình việc này. Về thời hạn thực hiện trả lại giấy tờ trên cũng tương tự đối với xe bán đi khác tỉnh.

Cũng trong phạm vi cùng tỉnh nếu mua, điều chuyển, cho, tặng, được phân bổ, thừa kế mà đã làm thủ tục sang tên và đổi chủ ngay thì sẽ không phải trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe.

Với quy định trên, khi bàn giao xe sang tỉnh khác, việc cấp lại biển số và giấy đăng ký cho chủ xe mới sẽ tạo thuận lợi cho cơ quan chức năng quản lý,  xử phạt qua hệ thống camera giám sát hiệu quả và chính xác hơn.

Thứ ba, xe quân sự không còn nhu cầu cấp biển số xe dân sự.

Thứ tư, xe đã đăng ký nhưng phát hiện hồ sơ xe là giả hoặc biển số được cấp nhưng không đúng quy định.

Đây là trường hợp mà nhiều chủ xe sau khi mua lại xe từ trên mạng, sau khi dùng một thời gian bị công an tuýt còi thì mới phát hiện toàn bộ giấy tờ xe là giả, dù đúng với màu sắc và loại xe nhưng số khung, số máy thì lại không khớp. Do vậy, chủ xe phải nộp lại cho cơ quan đăng ký xe. Qua đó, cơ quan điều tra sẽ thực hiện xác minh xe đó thực chất là tài sản của ai và làm rõ theo pháp luật.

Lưu ý: Đối với những chủ phương tiện thuộc trường hợp phải nộp lại giấy đăng ký và biển số xe nhưng nếu đã bị mất thì phải bổ sung thêm Đơn trình bày rõ lý do bị mất. Và tại Cơ quan đăng ký xe sẽ cung cấp cho chủ xe để điền thông tin cần thiết.[5]

Xử phạt vi phạm

Đối với việc không chấp hành đúng quy định về thu hồi biển số xe và giấy đăng ký xe thì với chủ phương tiện xe máy thì sẽ bị phạt từ 400.000  – 600.000 đồng (cá nhân) và 800.000 – 1.200.000 đồng (tổ chức).[6]

Chủ phương tiện là xe ô tô thì sẽ bị phạt tiền từ 2 – 4 triệu đồng (cá nhân) và 4 – 8 triệu đồng (tổ chức)[7]

Trên đây là nội dung tư vấn về “Các trường hợp thu hồi giấy đăng ký xe và biển số xe”

Luật Nghiệp Thành cảm ơn các bạn đã xem, rất mong nhận được phản hồi và góp ý bổ sung.

 

Biên tập: Nguyễn Linh Chi

Luật sư hướng dẫn: Luật sư Thuận

 

[1] Điều 15 Thông tư 58/2020/TT-BCA

[2] Điều 6.5 Thông tư 58/2020

[3] Cơ quan đăng ký xe đó là Phòng Cảnh sát giao thông, Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ-đường sắt, Phòng Cảnh sát giao thông (xe ô tô và xe máy) và Công an cấp huyện (đối với xe máy)  – Điều 3.4, 5 Thông tư 58/2020

[4] Điều 6.3 Thông tư 58/2020

[5] Điều 16.1 Thông tư 58/2020/TT-BCA

[6] Điều 30.4 Nghị định 100/2019

[7] Điều 30.7 Nghị định 100/2019

 

Document
Danh mục: Cá Nhân
Tags: tag

Tác giả

Viết bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không bị người khác biết.
Những ô bắt buộc được đánh dấu*